Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN

https://i2.wp.com/vnjurist.com/vnjurist/uploads/image/001-07/accountant_calculator.jpgNgày 27/03/2009, Bộ tài chính đã ban hành Thông tư số 62/2009/TT-BTC về việc hướng dẫn sửa đổi thông tư số 84/2008/TT-BTC – Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN và nghị định số 100/2008/NĐ-CP. Các nội dung được sửa đổi chủ yếu như sau:

  1. Đối với các khỏan phụ cấp, trợ cấp được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công sẽ có thêm các khỏan sau:

a) Khoản trợ cấp chuyển vùng một lần đối với người nước ngoài đến cư trú tại Việt Nam. Mức trợ cấp được tính trừ căn cứ trên hợp đồng lao động hoặc thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động.

b) Khoản tiền mua vé máy bay khứ hồi do đơn vị sử dụng lao động chi trả  hộ (hoặc thanh toán) cho người lao động là người nước ngoài về phép mỗi năm một lần. Căn cứ để xác định là hợp đồng lao động và giá ghi trên vé máy bay từ Việt Nam đến quốc gia người nước ngoài mang quốc tịch hoặc quốc gia gia đình người nước ngoài sinh sống.

c) Khoản tiền học phí cho con của người nước ngoài học tại Việt Nam theo bậc học phổ thông do đơn vị sử dụng lao động chi trả hộ căn cứ vào hợp đồng lao động và chứng từ nộp tiền học.

  1. Các khoản lợi ích khác bằng tiền hoặc không bằng tiền mà người lao động được hưởng ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả hoặc trả hộ cho người lao động, thì chỉ tính vào thu nhập chịu thuế đối với các trường hợp xác định được đối tượng được hưởng; không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân đối với các khoản lợi ích không xác định được cụ thể người được hưởng. Cụ thể trong một số trường hợp như sau

a) Khoản tiền thuê nhà do đơn vị sử dụng lao động chi trả hộ: tính vào thu nhập chịu thuế theo số thực tế chi trả hộ nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế (chưa bao gồm tiền thuê nhà).

b) Đối với khoản chi về phương tiện phục vụ đưa đón tập thể người lao động từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại thì không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động; trường hợp chỉ chuyên đưa đón riêng từng cá nhân thì phải tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân được đưa đón.

c) Đối với các khoản phí hội viên như thẻ hội viên sân gôn, sân quần vợt, thẻ sinh hoạt các câu lạc bộ văn hoá nghệ thuật, thể dục thể thao… nếu ghi đích danh cá nhân hoặc nhóm cá nhân sử dụng thì tính vào thu nhập chịu thuế của từng cá nhân sử dụng. Trường hợp được sử dụng chung, không ghi tên cá nhân hoặc nhóm cá nhân sử dụng thì không tính vào thu nhập chịu thuế.

d) Đối với các khoản chi dịch vụ khác phục vụ cho cá nhân trong hoạt động chăm sóc sức khoẻ, vui chơi, thể thao, giải trí thẩm mỹ… nếu chi trả ghi rõ tên cá nhân được hưởng thì tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân. Trường hợp không ghi tên cá nhân được hưởng mà chi chung cho tập thể người lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế.

đ) Đối với khoản chi trả hộ tiền đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao động phù hợp với công việc chuyên môn của người lao động hoặc theo kế hoạch của đơn vị sử dụng lao động thì không tính vào thu nhập của người lao động. Trường hợp đào tạo không đúng chuyên môn nghiệp vụ hoặc không nằm trong kế hoạch của đơn vị thì phải tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động.

e) Đối với khoản tiền ăn giữa ca: không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động nếu người sử dụng lao động trực tiếp tổ chức bữa giữa ca cho người lao động.

Trường hợp, đơn vị chi trả thu nhập không trực tiếp tổ chức bữa ăn ca mà chi tiền ăn ca trực tiếp cho người lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế thuế của người lao động nếu mức chi phù hợp với hướng dẫn của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. Trường hợp chi cao hơn mức hướng dẫn của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì phần chi vượt mức phải tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động.

Mức chi cụ thể áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức, đơn vị được phép hoạt động kinh doanh thuộc cơ quan hành chính, sự nghiệp, đảng, đoàn thể, các hội không quá mức quy định của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Đối với các doanh nghiệp ngoài  nhà nước và các tổ chức khác, mức chi do thủ trưởng đơn vị thống nhất với chủ tịch công đoàn quyết định nhưng mức tối đa cũng không vượt quá mức áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước.

f) Đối với khoản khoán chi văn phòng phẩm, công tác phí, điện thoại, trang phục,… không tính vào thu nhập chịu thuế nếu mức khoán chi phù hợp với quy định của Nhà nước hiện hành. Mức khoán chi áp dụng đối với từng trường hợp như sau:

– Đối với cán bộ, công chức và người làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, đoàn thể: mức khoán chi áp dụng theo văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính.

– Đối với người lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh, các văn phòng đại diện: mức khoán chi áp dụng phù hợp với mức xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

– Đối với người lao động làm việc trong các tổ chức quốc tế, các văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài: mức khoán chi thực hiện theo quy định của Tổ chức, văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài.

  1. Ngòai các nội dung quan trọng liên quan đến các khỏan thu nhập chịu thuế, không chịu thuế đã nêu ở trên, thông tư còn hướng dẫn thêm 1 số khỏan trong quy định về các khỏan phụ cấp, trợ cấp được trừ khi tính thuế; quy định rõ về đối tượng phụ thuộc là bố dượng, mẹ kế, ông bà nội ngọai, cô, gì, chú, bác, anh chị em ruột, cháu ruột; bổ sung hướng dẫn về hồ sơ chứng minh người phụ thuộc trong đó có việc cần xác nhận hay không cần xác nhận của UBND phường nơi đang cư trú;
  1. Thông tư cũng quy định về việc tính thuế TNDN đối với họat động chuyển nhượng chứng khóan đối với các lọai cổ phiếu chưa niêm yết trên thị trường chứng khỏan;
  1. Áp dụng thống nhất 1 mức khấu trừ theo tỷ lệ 10% (bỏ đi tỷ lệ 20% của thông tư 84) đối với các khỏan thu nhập không thường xuyên có giá trị từ 500,000đ trở lên khi chi trả cho các cá nhân đó (không phân biệt là có MST thu nhập cá nhân hay không).

Riêng trường hợp có thu nhập từ đại lý bán hàng, thu nhập từ dịch vụ thì nếu cá nhân đó chỉ có 1 nguồn thu nhập duy nhất là từ các khỏan này thì doanh nghiệp phải ước tính được thu nhập của các cá nhân này xem có vượt quá 48T/năm (đối với trường hợp độc thân) hay không thì mới tiến hành khấu trừ 10% thu nhập tuy nhiên cá nhân này phải tiến hành làm bảng cam kết theo mẫu số 23/BCK-TNCN để nộp lại cho cơ quan chi trả thu nhập để làm hồ sơ chứng minh. Doanh nghiệp sẽ tạm không khấu trừ 10% thu nhập cho trường hợp này nhưng vẫn hết năm vẫn phải lập danh sách thông báo cho cơ quan thuế biết;

Ngòai ra thông tư cũng quy định chi tiết tính thuế TNCN đối với cá nhân, nhóm cá nhân có thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ nhận cổ tức bằng có phiếu, cố phiếu thưởng, thu nhập bằng tiền từ vốn đầu tư nhưng không nhận tiền mà ghi tăng vốn đầu tư; thuế từ quà tặng có giá trị dưới 10T đồng….

Kiểm toán trẻ

Thẻ: , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , ,

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: